Thứ Ba, 18 tháng 7, 2017

Chế tài liên quan tới hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam : Luận văn ThS. Luật: 60 38 01 07

Thông qua việc tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan tới chế tài đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh, bao gồm các quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, các biện pháp chế tài, trình tự áp dụng chế tài, thẩm quyền xử lý xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh..., được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành như: Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và các văn bản hướng dẫn thi hành, cùng với thực tế áp dụng chế tài xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam. Luận văn đã góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận pháp luật về kiểm soát và xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh; bản chất, nội dung, đặc điểm của các biện pháp chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh. Đồng thời, Luận văn cũng đưa ra những đánh giá trung thực, khách quan về thực trạng pháp luật và hiệu quả áp dụng các chế tài xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay, từ đó có những đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về chế tài hạn chế cạnh tranh nói riêng và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh nói chung nhằm hướng tới mục tiêu chung là xây dựng và hoàn thiện môi trường cạnh tranh bình đẳng, công bằng ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.



http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/52293

Rào cản kỹ thuật trong các nước tham gia hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) và những ảnh hưởng đến hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam : Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý: 60 31 01 06

Hiệp định Hợp tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement- TPP) là một Hiệp định Thương mại tự do nhiều bên, được ký kết với mục tiêu thiết lập một mặt bằng thương mại tự do chung cho các nước khu vực châu Á Thái Bình Dương. Hiệp định lúc đầu do 4 nước tham gia khởi xướng gồm Brunei, Chile, New Zealand và Singapore (hay gọi là P4), được ký kết ngày 3 tháng 6/2005, có hiệu lực từ 28/5/2006.

http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/46033

Thứ Hai, 17 tháng 7, 2017

Đầu tư nội bộ ở các Chaebol Hàn Quốc

Chaebol là một mô hình khác của tập đoàn thuộc sở hữu và điều hành bởi một gia đình. Các Chaebol của Hàn Quốc thường mang hình thức của một công ty mẹ và có nhiều công ty con hoạt động để đáp ứng yêu cầu vật tư và dịch vụ của công ty mẹ. Do đó hầu hết các Chủ tịch hiện tại của các Chaebol đã thành công là cha hoặc ông nội của họ. Hơn thế, Cheabol nhận được sự ưu đãi đặc biệt của nhà nước và tồn tại mối quan hệ “thân hữu” giữa Chính phủ với một số doanh nghiệp lớn. Nó có thể tạo ra sức ép để đưa ra những đạo luật có lợi cho công việc kinh doanh của họ.


Hình thức quản lý trong nội bộ các Chaebol là các thành viên trong cùng một dòng tộc kiểm soát và quản lý doanh nghiệp một cách rất tập trung và tập quyền. Đồng thời, mối dây liên kết giữa các nhân vật lãnh đạo Chaebol với chính quyền đã giúp họ hoạt động hiệu quả hơn. Và chính những dàn xếp thường xuyên giữa các Chaebol và Chính phủ Hàn Quốc, nhất là trong lĩnh vực thi hành luật và kiểm soát thuế, đã khiến sinh ra một hệ thống quản lý tài chính bị mua chuộc ở nhiều cấp độ khác nhau, đôi khi đến mức độ nghiêm trọng.

Phúc lợi y tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

Bệnh tật là một rủi ro của con người mà trong cuộc đời không ai tránh được. Bệnh tật ảnh hưởng đến sức khỏe người dân, làm suy giảm sức sản xuất của nền kinh tế và thậm chí trờ thành những vấn đề của xã hội. Ngành y tế ra đời để giải quyết vấn đề đó. Sự phát triển của ngành y tế thể hiện sự phát triển của một quốc gia bao gồm sự phát triển kinh tế - xã hội và mức sống người dân. Cơ chế thị trường với hoạt động của cung - cầu để xác định mức giá và số lượng dịch vụ đã nhanh chóng thể hiện sự bất cập trong lĩnh vực y tế. vốn đầu tư cho hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và nguồn nhân lực lớn làm chi phí bệnh viện bị đẩy cao, khiến giá cả cho các dịch vụ y tế cũng cao. Điều này khiến cho rất nhiều người dân với thu nhập thấp sè khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/43600

Thực trạng và xu hướng Hiệp định thương mại tự do ( FTA) trong khu vực ASEAN

Phân tích xu hướng chính sách FTA (Hiệp định thương mại tự do) của một số quốc gia trong khối ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á), và của toàn khối ASEAN như một tổng thể, trong đó sẽ tập trung vào phương thức FTA ASEAN+1. Nghiên cứu các nước ASEAN nói chung song trọng tâm là các nước chủ động và tích cực tham gia xu hướng chính sách FTA của Singapore, Malaysia và Việt Nam. Tìm hiểu những động thái FTA của các quốc gia và toàn khu vực từ năm 1994 đến năm 2010.



Chủ Nhật, 16 tháng 7, 2017

Chùa thầy và sự thể hiện những yếu tố Mật tông

Chùa Thầy (Thiên Phúc Tự), thuộc xã Thụy Khuê, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, từ lâu đã nổi tiếng không phải chỉ ở vẻ đẹp của kiến trúc, danh lam thắng cảnh mà còn bởi những truyền thuyết kỳ ảo, linh thiêng xung quanh thiền sư Từ Đạo Hạnh. Lối tu mang màu sắc huyền bí của dòng thiền Mật Tông cùng với những huyền tích của Từ Đạo Hạnh đã tạo nên những sắc thái riêng biệt của kiến trúc cũng như nghệ thuật tổ chức không gian nơi đây. 


Mật Tông khi truyền vào Việt Nam không còn độc lập như một tông phái riêng mà nhanh chóng hòa vào tín ngưỡng dân gian, pha trộn với chân tế, cầu hồn, pháp thuật, yển bùa trị tà ma chữa bệnh…(3). Như vậy, chùa Thầy được coi là một trong những ngôi chùa mang đậm dấu ấn của phái Mật Tông, chủ trương dùng hình tượng cụ thể kết hợp với mật chú, mật ngữ để khai mở trí tuệ và giác ngộ, thường sử dụng các yếu tố: phong thuỷ, nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình, sắp đặt điêu khắc, đồ thờ để tạo hiệu quả thị giác, để người Phật tử tự suy ngẫm đi đến giác ngộ. Tất cả những yếu tố này được qui gọn trong bốn pháp Mạn Trà la bao gồm: "Đại Mạn Trà la, Tam muội gia Mạn Trà la, Pháp Mạn Trà la, Yến Ma Mạn Trà la”

Những di vật đá có niên đại thời Hậu Lê ở một số ngôi chùa thuộc thiền phái Trúc Lâm

Đạo Phật được truyền vào Việt Nam tính đến nay đã được ngót ngàn năm. Thiền phái Trúc Lâm do Trần Nhân Tông khởi xướng, được hình thành vào cuối thế kỷ XIII. Những ngôi chùa thuộc thiền phái Trúc Lâm được đề cập trong bài viết này chủ yếu có nguồn gốc từ thời Trần. Dấu hiệu nhận biết các ngôi chùa này là ở nhà Tổ thường có tượng thờ của cả ba vị sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang, hoặc tượng thờ của một trong ba vị ấy. Những bia đá thời Hậu Lê còn lại ở một số ngôi chùa này đã mang lại cho các nhà nghiên cứu nhiều thông tin bổ ích góp phần tìm hiểu nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như: lịch sử, địa lý, lịch sử trùng tu chùa, làm mới và tô lại tượng Phật, tên gọi của chùa qua các thời kỳ lịch sử. Đây là những di vật rất có giá trị cần phải được giữ gìn, bảo quản như những báu vật của đất nước.