Bài viết đề cập đến một vấn đề đang “nóng” trong các thảo luận về phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay: Vấn đề tăng trưởng xanh. Thông qua việc so sánh với thực trạng tăng trưởng xanh của khu vực Châu á – Thái Bình dương, bài viết trình bày những thực trạng về tăng trưởng xanh ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp giải quyết vấn đề.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/55550
Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017
Chủ Nhật, 22 tháng 10, 2017
ĐỀ ÁN NGOẠI NGỮ QUỐC GIA 2020 CÓ THỂ HỌC ĐƯỢC GÌ TỪ KINH NGHIỆM CHÂU Á?
Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020 đến nay đã bước sang năm thứ 6 (2011-2017) và trong quãng thời gian đó Đề án đã gây ra nhiều tranh luận và nghi ngờ về tính khả thi đối với các mục tiêu do Đề án đề ra trong cả giới chuyên môn trong và ngoài nước cũng như dư luận xã hội. Với mục đích giúp Bộ Giáo dục và Đào tạo có những điều chỉnh kịp thời trong thời gian còn lại của Đề án, bài viết này phân tích kinh nghiệm thực hiện đổi mới dạy, học, và đánh giá năng lực tiếng Anh của một số nước châu Á trong những năm gần đây. Trên cơ sở kết quả của sự phân tích đó, bài viết đưa ra những khuyến nghị cho việc triển khai Đề án Ngoại ngữ Quốc gia của Việt Nam trong những năm còn lại.
Thứ Năm, 19 tháng 10, 2017
Pháp luật về kết hôn giả tạo ở Việt Nam hiện nay
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống, toàn diện, tổng quát về vấn đề kết hôn giả tạo theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay. Trình bày được khái niệm, bản chất, động cơ, hệ quả, các yếu tố tác động đến kết hôn giả tạo. Luận giải được sự cần thiết điều chỉnh pháp luật cũng như có sự so sánh về nội dung của pháp luật Việt Nam đối với kết hôn giả tạo trước và nay. Luận văn khái quát được thực trạng pháp luật Việt Nam về kết hôn giả tạo cũng như thực tiễn xử lý việc kết hôn giả tạo. Trình bày rõ các căn cứ xác định kết hôn giả tạo, liệt kê các trường hợp kết hôn giả tạo cụ thể với các mục đích khác nhau. Đồng thời đưa ra được nguyên tắc, thẩm quyền, hậu quả pháp lý và mục đích ý nghĩa của việc xử lý kết hôn giả tạo. Sau khi đánh giá thực trạng, cũng như học hỏi một số kinh nghiệm của các nước phát triển như Anh, Mỹ, Úc trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam, luận văn đã trình bày những phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kết hôn giả tạo ở Việt Nam hiện nay. Những giải pháp này sẽ góp phần khắc phục những hạn chế còn tồn tại của pháp luật Việt Nam về kết hôn giả tạo.
Văn hóa Đồng Đậu và vị trí của nó trong thời đại đồng thau ở lưu vực sông Hồng : Luận án Tiến sĩ: 62 22 03
Văn hóa Đồng Đậu là một mắt xích trong phổ hệ văn hóa
Tiền Đông Sơn và Đông Sơn ở lưu vực sông Hồng. Nghiên cứu về phổ hệ văn hóa này
đã có các công trình mang tính tổng hợp như “Văn hoá Phùng Nguyên” của Hán Văn
Khẩn, “Văn hoá Gò Mun” của Hà Văn Phùng, “Văn hoá Đông Sơn tính thống nhất và
đa dạng” của Phạm Minh Huyền, “Văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam” do Hà Văn Tấn làm
chủ biên… Để nâng cao nhận thức và góp phần nghiên cứu về thời kỳ văn minh sông
Hồng nói riêng và lịch sử dân tộc thời dựng nước nói chung cần có một công
trình nghiên cứu mang tính hệ thống, tổng hợp và toàn diện về văn hoá Đồng Đậu.
Luận án “Văn hoá Đồng Đậu và vị trí của nó trong
thời đại đồng thau ở lưu vực sông Hồng” bước đầu hướng tới mục đích đó.
Thứ Tư, 18 tháng 10, 2017
Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động chuyên canh hoa đến môi trường đất vùng ven đô Hà Nội : Luận án TS. Khoa học môi trường: 624403
Lần đầu tiên đánh giá một cách có hệ thống các yếu tố tác động đến môi trường đất vùng chuyên canh hoa hồng, hoa đồng tiền, hoa cúc tại các ruộng trồng hoa thuộc phường Tây Tựu và xã Mê Linh, Hà Nội.
- Đã xác định thấy mối liên hệ giữa sử dụng phân bón và vôi cho đất trồng cây hoa với mức độ tích luỹ Cu, Cd, Zn, As, Hg... trong môi trường đất. Mức độ tích lũy kim loại nặng trong đất chuyên canh hoa giảm dần theo thứ tự đất trồng hoa hồng, đất trồng hoa cúc và hoa đồng tiền, đất trồng rau, đất đối chứng.
- Đã xác định có sự liên quan giữa sử dụng hóa chất BVTV trong trồng hoa với sự tích lũy các hóa chất này trong môi trường đất. Trong đất chuyên canh hoa có sự tồn dư nhiều loại hóa chất BVTV như BHC, DDT, DDE… vượt ngưỡng QCVN 15:2008/BTNMT (ở Mê Linh, hàm lượng BHC trong đất trồng hoa hồng vượt 10,4-12,7 lần; ở Tây Tựu, DDT trong đất trồng hoa hồng vượt 1,42-1,65 lần). Sự tích lũy hóa chất BVTV trong đất trồng hoa giảm theo dần thứ tự đất trồng hoa hồng, đất trồng hoa cúc và hoa đồng tiền, đất trồng rau, đất đối chứng.
Thứ Ba, 17 tháng 10, 2017
Nghiên cứu và xây dựng ứng dụng phân tích dữ liệu kinh doanh thiết bị điện tử : Luận văn ThS. Kỹ thuật phần mềm: 60480103
Luận văn đã đi sâu nghiên cứu về mô hình hồi quy tuyến tính, phần mềm WEKA. Từ đó, xây dựng mô hình học máy để phân tích dữ liệu nhằm giải quyết bài toán dự báo. Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đã giải quyết bài toán thực tế là dự báo giá bán máy tính xách tay của Công ty cổ phần thương mại Nguyễn Kim.
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/54325
http://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/54325
Chủ Nhật, 15 tháng 10, 2017
Vai trò tài sản trú ẩn an toàn của vàng ở Việt Nam
Nghiên cứu kiểm định vai trò của vàng là công cụ rào chắn rủi ro hay một tài sản trú ẩn an toàn cho các nhà đầu tư ở Việt Nam. Dựa theo mô hình của Baur và McDermott (2010), Baur và Lucey (2010), nghiên cứu thực hiện trên chuỗi dữ liệu cổ phiếu có khối lượng lớn, đồng đôla và một danh mục kết hợp hai tài sản này. Kết quả nghiên cứu cho thấy vàng là một tài sản trú ẩn an toàn mạnh cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán và thị trường ngoại tệ khi thị trường biến động ở mức trung bình. Các nhà đầu tư Việt Nam có thể sử dụng vàng như một công cụ để phòng ngừa rủi ro cho danh mục đầu tư.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

